* Quy trình nuôi TCX BTC (Mô hình 1)
Bước 1. Chọn ao nuôi: Ao có hình chữ nhật hoặc vuông, diện tích 1.000 - 4.000 m2; độ sâu từ 1 - 1,5 m. Bờ ao phải chắc chắn, không rò rỉ, không có hang hốc làm nơi trú ẩn cho các các loại địch hại. Mặt bờ rộng ít nhất là 2 m để tiện việc đi lại chăm sóc tôm. Ao có cống cấp thoát, miệng cống 0,5 - 0,6 m và có lưới ngăn không cho địch hại vào trong ao nuôi hoặc tôm thoát ra ngoài.
Bước 2: Vệ sinh ao nuôi: Ao nuôi phải được sên vét lớp bùn đáy để loại bỏ hết chất hữu cơ lắng tụ ở đáy, mầm bệnh và khí độc. Ao cần đươc phơi đáy trước mỗi vụ nuôi nhằm diệt mầm bệnh và địch hại, đồng thời công việc này giúp khoáng hóa các chất hữu cơ còn lại ở đáy và giải phóng các khí độc như H2S, NH3... trong đất đáy ao. Bón vôi để diệt tạp và nâng cao pH, ổn định kiềm trong ao.
Bước 3: Xử lý nước: Tận dụng trời mưa để rửa mặn và trữ nước hoặc chọn nước tốt để lấy nước vào ao (đảm bảo độ mặn từ < 10 ‰) ở mức 30 – 40 cm và giữ 1 - 2 ngày để tảo phát triển, trước khi tăng mức nước lên từ từ cho đến khi đạt yêu cầu. Nước lấy vào ao phải qua hệ thống lưới lọc ở cống. Diệt cá tạp trước khi thả giống, dùng Saponine với liều lượng 10kg/1.000 m3. Khi độ mặn < 10‰, kiềm đạt 100 – 120 mgCaCO3/l, pH 7,5 – 8 tiến hành chọn giống.
Bước 4: Chọn giống và thả giống: Tôm giống được ương nuôi với 2 giai đoạn:
Giai đoạn I: TCX giống PL12, có kích cỡ 80.000 con/kg, được thả nuôi trong giai. Mật độ thả ương 800-1.000 con/m2. Tôm được ương trong giai lưới với diện tích giai từ 10 -20 m2.
Thức ăn cho TCX giống trong giai đoạn này là thức ăn chuyên dùng trong nuôi TCX với 40-42% đạm (thức ăn cho Sú-Thẻ, vì thức ăn TCX không có số 00-02). Thức ăn ban đầu có kích cỡ 0.4 – 0.8 mm và tăng dần. Thức ăn được hòa vào nước và tạt đều vào ao ương. Tôm được cho ăn 3 lần/ngày vào lúc sáng sớm, chiều và tối.
Lượng cho ăn: Ngày đầu tiên cho ăn với lượng 150 - 200 g/100.000 PL. Sau đó, mỗi ngày tăng thêm khoảng 10% (10 ngày đầu), 7% (cho 10 ngày tiếp theo), 5% (cho 10 ngày tiếp theo). Khi cho tôm ăn nên rải đều khắp xung quanh ao.
Quản lý môi trường: Đo các yêu tố chính pH, Nhiệt độ, kiềm, độ mặn, NH3 …(5-10 ngày/lần và khi có thay đổi thời tiết). Nhằm có các biện pháp kỹ thuật tác động kịp thời điều chỉnh các yếu tố môi trường về ngưỡng hợp lý, tránh sự biến động lớn và đột ngột của các yếu tố môi trường có thể gây sốc cho tôm. Theo dõi thường xuyên sức khỏe tôm nuôi.
Sau thời gian ương 30 ngày, tôm đạt kích cỡ 0.2-0.3 g/con thì được bung ra ao, bắt đầu nuôi tôm giai đoạn II.
Giai đoạn II: Nuôi tôm giống (kích cỡ 0.2-0.3 g/con) lên thương phẩm (kích cỡ TB: 50g/con).
Bước 5: Chăm sóc quản lý ao nuôi
Cho ăn: Từ giai đoạn II, sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 30% và cho ăn theo định mức dựa trên khối lượng cơ thể tôm, liều lượng cho ăn 3 - 5% trọng lượng thân/ngày, 2 lần/ngày. Có thể kết hợp sử dụng thức ăn tươi tại địa phương (bắp, cá tạp, ốc bươu vàng,…). Thức ăn được rải điều xung quanh ao.
Quản lý môi trường: Đo các yêu tố chính pH, độ mặn, kiềm, NH3 …(5-10 ngày/lần và khi có thay đổi thời tiết). Áp dụng các biện pháp kỹ thuật kịp thời nhằm điều chỉnh các yếu tố môi trường về ngưỡng hợp lý, tránh sự biến động lớn và đột ngột có thể gây sốc cho tôm. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra sức khỏe tôm nuôi.
Bước 6. Thu hoạch: Tiến hành thu hoạch một lần, sau 6 – 6,5 tháng nuôi tôm đạt kích cở < 20 con/kg.
*Quy trình nuôi tôm càng xanh toàn đực bán thâm canh trong ruộng lúa (Mô hình 2)
Bước 1. Chọn và xây dựng khu ương và ruộng nuôi
- Khu ương giống: Khu ương có hình chữ nhật hoặc vuông, diện tích 1.000 - 4.000 m2 (chiếm 5-10% diện tích ruộng nuôi); độ sâu từ 1,2 - 1,4 m. Bờ phải chắc chắn, không rò rỉ, không có hang hốc làm nơi trú ẩn cho các loại địch hại. Mặt bờ rộng ít nhất là 2 m để tiện việc đi lại chăm sóc tôm. Đối với lưới phải rào chắc chắn phần đáy lưới, lưới phải cao hơn mặt nước từ 30-40 cm. Ao có cống cấp thoát, miệng cống 0,3 - 0,4 m và có lưới ngăn không cho địch hại vào trong ao nuôi hoặc tôm thoát ra ngoài.
- Ruộng nuôi: Ruộng nuôi có diện tích từ 1-4 ha/hộ, có canh tác lúa, mương bảo phải đảm bảo chiều rộng từ 4-6 m, độ sâu mương từ 1.2 -1.4 m, độ sâu trảng từ 0.6 m trở lên, bờ bao chắc chắn không rò rỉ mọi chiều rộng từ 3-4 m.
Bước 2: Vệ sinh khu ương và ruộng nuôi: Ao nuôi phải được sên vét lớp bùn đáy để loại bỏ hết chất hữu cơ lắng tụ ở đáy, mầm bệnh và khí độc. Ao cần đươc phơi đáy trước mỗi vụ nuôi nhằm diệt mầm bệnh và địch hại, đồng thời công việc này giúp khoáng hóa các chất hữu cơ còn lại ở đáy và giải phóng các khí độc như H2S, NH3... trong đất đáy ao. Bón vôi để diệt tạp và nâng cao pH, ổn định kiềm trong ao.
Bước 3: Xử lý nước: Tận dụng trời mưa để rửa mặn và trữ nước hoặc chọn nước tốt để lấy nước vào ao (đảm bảo độ mặn từ < 10 ‰) ở mức 30 – 40 cm và giữ 1 - 2 ngày để tảo phát triển, trước khi tăng mức nước lên từ từ cho đến khi đạt yêu cầu. Nước lấy vào ao phải qua hệ thống lưới lọc ở cống. Diệt cá tạp trước khi thả giống, dùng Saponine với liều lượng 10kg/1.000 m3. Khi độ mặn < 10‰, kiềm đạt 100 – 120 mgCaCO3/l, pH 7,5 – 8 tiến hành chọn giống.
Bước 4: Chọn giống và thả giống: Tôm giống được ương nuôi với 2 giai đoạn:
Giai đoạn I: TCX giống PL12, có kích cỡ 80.000 con/kg, được thả nuôi trong ao/lưới ương. Mật độ thả ương 40-120 con/m2, có cung cấp oxy.
Thức ăn cho TCX giống trong giai đoạn này là thức ăn chuyên dùng trong nuôi TCX với 40-42% đạm. (thức ăn cho Sú-Thẻ, vì thức ăn TCX không có số 00-02). Thức ăn ban đầu có kích cỡ 0.4 – 0.8 mm và tăng dần. Thức ăn được hòa vào nước và tạt đều vào ao ương. Tôm được cho ăn 3 lần/ngày vào lúc sáng sớm, chiều và tối.
Lượng cho ăn: Ngày đầu tiên cho ăn với lượng 150 - 200 g/100.000 PL. Sau đó, mỗi ngày tăng thêm khoảng 10% (10 ngày đầu), 7% (cho 10 ngày tiếp theo), 5% (cho 10 ngày tiếp theo), 3% (cho 30 ngày tiếp theo). Khi cho tôm ăn nên rải đều khắp xung quanh ao/lưới ương.
Quản lý môi trường: Đo các yêu tố chính pH, Nhiệt độ, kiềm, độ mặn, NH3 (5-10 ngày/lần và khi thời tiết thay đổi). Nhằm có các biện pháp kỹ thuật tác động kịp thời điều chỉnh các yếu tố môi trường về ngưỡng hợp lý, tránh sự biến động lớn và đột ngột của các yếu tố môi trường có thể gây sốc cho tôm. Theo dõi thường xuyên sức khỏe tôm nuôi.
Sau thời gian ương 60 ngày, tôm đạt kích cỡ 2-3 g/con thì được thu thả ra ruộng, kết hợp với bẻ càng, bắt đầu nuôi tôm giai đoạn II.
Giai đoạn II:
Nuôi tôm giống (kích cỡ 2-3 g/con) lên thương phẩm (kích cỡ trung bình 65g/con).
Bước 5: Chăm sóc quản lý ruộng nuôi
Cho ăn: Từ giai đoạn II, sử dụng thức ăn công nghiệp (CN) dạng viên có hàm lượng đạm 30% và cho ăn theo định mức (50%) dựa trên khối lượng cơ thể tôm. Có thể kết hợp sử dụng thức ăn tươi tại địa phương (bắp, cá tạp, ốc bươu vàng,…). Cho ăn 1 lần/ngày vào lúc chiều mát có thể xen kẻ 1 cử thức ăn CN với 1 cử thức ăn tươi. Thức ăn được rải điều quanh mương hoặc từng cụm.
Quản lý môi trường: Đo các yêu tố chính pH, kiềm, độ mặn, NH3 …(5-10 ngày/lần và khi thời tiết thay đổi). Áp dụng các biện pháp kỹ thuật kịp thời điều chỉnh các yếu tố môi trường về ngưỡng hợp lý, tránh sự biến động lớn và đột ngột có thể gây sốc cho tôm. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra sức khẻo tôm nuôi.
Bước 6. Thu hoạch: Tiến hành thu hoạch một lần, sau 6 – 6,5 tháng nuôi tôm đạt kích cở < 20 con/kg.