Công nghệ

Quy trình nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực hai giai đoạn bán thâm canh

Quy trình nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực hai giai đoạn bán thâm canh

9.0 (0 đánh giá) · 3 lượt xem

Nhà cung ứng: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau

Danh mục: Thuỷ sản

Thông tin chủ sở hữu (Nhà cung ứng)
Tên đơn vị / Cá nhân chủ sở hữu
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau
Thông tin liên hệ
Người đại diện:Nguyễn Phương Bắc – Giám đốc
ĐT (NCC):0917798080
Email (NCC):skhcn.tnhuy@camau.gov.vn
Website (NCC):https://sokhcn.camau.gov.vn/
Thông tin công nghệ
Tên công nghệ / Quy trình
Quy trình nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực hai giai đoạn bán thâm canh
Xuất xứ
☑ Trong nước (Việt Nam)
☐ Nước ngoài
Mô tả chi tiết giải pháp
Bối cảnh & Vấn đề giải quyết

Tôm càng xanh là một trong những đối tượng nuôi có hiệu quả cao khi được nuôi xen canh với cây lúa, đặc biệt là vùng ruộng lúa nhiễm mặn vào mùa khô. Thực tế cho thấy mô hình lúa - tôm là không dùng thuốc thú y thủy sản trị bệnh cho tôm, mà sử dụng biện pháp sinh học; sản xuất lúa cũng không sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật (để bảo vệ tôm càng xanh). Do vậy, mô hình cho sản phẩm tôm sạch, lúa sạch. Việc trồng lúa trên đất nuôi tôm không xảy ra “xung đột” trong quá trình sản xuất. Đây là mô hình “thông minh”, cân bằng sinh thái đồng ruộng. Sản xuất lúa - tôm được đánh giá là mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững, ít rủi ro so với các mô hình nuôi trồng thủy sản khác và được xem như mô hình thích ứng biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích.

Tỉnh Cà Mau có tiềm năng rất lớn cho nuôi tôm càng xanh, diện tích nuôi hiện nay khoảng 18.000 ha, ước tính đến năm 2025 là 20.000 ha, tập trung ở các huyện Thới Bình, U Minh và Trần Văn Thời. Đối với mô hình nuôi tôm càng xanh bán thâm canh trong ao cho năng suất từ 1-2 tấn/ha/vụ/năm trong vùng ĐBSCL, nhưng tại tỉnh Cà Mau chưa có mô hình thử nghiệm nuôi bán thâm canh trong ao. Xuất phát từ tiềm năng lợi thế của tỉnh Cà Mau; nhu cầu nuôi tôm càng về kích cỡ lớn 15-20 con/kg; yêu cầu thực tiễn nâng cao năng suất so với tiềm năng hiện có, mục tiêu sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, Dự án SXTN “Thử nghiệm mô hình nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực bán thâm canh tại Cà Mau” được thực hiện là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nuôi tôm càng xanh tại tỉnh Cà Mau.

Mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực bán thâm canh: Ứng dụng công nghệ sinh học trong mô hình nuôi và kỹ thuật nuôi tôm 02 giai đoạn; tôm càng xanh giống PL12 được thả nuôi. 

- Mô hình 1: giai đoạn 1 ương trong giai lưới với mật độ 1.000 con/m2, thời gian ương 30 ngày, trọng lượng trung bình đạt từ 0,2-0,3 g/con; Giai đoạn 2 nuôi tôm có trọng lượng trung bình từ 0,2-0,3 g/con lên đạt kích cỡ thương phẩm (trọng lượng trung bình ≥ 50 g/con). 

- Mô hình 2: Giai đoạn 1 ương trong ao với mật độ từ 60 con/m2, thời gian ương 60 ngày, trọng lượng trung bình từ 2-3 g/con; Giai đoạn 2 nuôi tôm có trọng lượng trung bình từ 2-3 g/con đến đạt kích cỡ thương phẩm (trọng lượng trung bình đạt ≥ 50g/con) 

Cho ăn: Giai đoạn 1 sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 42%; Giai đoạn 2 sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 30% và cho ăn theo định mức dựa trên khối lượng cơ thể tôm, có thể kết hợp sử dụng thức ăn tươi tại địa phương (cá phi, cá tạp,…); Mùa vụ thả: Từ tháng 7/2022 đến tháng 3/2023 (mô hình 1) và từ tháng 6- 2022 đến tháng 1-2023 (mô hình 2). 

Kết quả đạt được: (1) MÔ HÌNH 01: Năng suất tôm nuôi đạt TB 1.773 kg/ha, tỷ lệ hộ đạt > 1.500 kg/ha chiếm 100%, đạt kích cỡ từ 10-15 con/kg giá bán cao, lợi nhuận tăng. (2) MÔ HÌNH 02: Năng suất tôm nuôi đạt TB 516,4 kg/ha, tỷ lệ hộ đạt > 500kg/ha chiếm 63,6% (HTX Trí Lực chiếm 57,1% và  HTX Đoàn Phát chiếm 70%); Thời gian nuôi trong ruộng về kích cỡ < 20 con/kg ngắn hơn so với nuôi thả từ PL12; Năng suất lúa ST 25 đạt 4.047,5 kg/ha, tỷ lệ hộ đạt > 4.000 kg/ha chiếm 71,4 % HTX Trí Lực và 40% HTX Đoàn Phát.

Nguyên lý vận hành & Sơ đồ quy trình

* Quy trình nuôi TCX BTC (Mô hình 1)
Bước 1. Chọn ao nuôi: Ao có hình chữ nhật hoặc vuông, diện tích 1.000 - 4.000 m2; độ sâu từ 1 - 1,5 m. Bờ ao phải chắc chắn, không rò rỉ, không có hang hốc làm nơi trú ẩn cho các các loại địch hại. Mặt bờ rộng ít nhất là 2 m để tiện việc đi lại chăm sóc tôm. Ao có cống cấp thoát, miệng cống 0,5 - 0,6 m và có lưới ngăn không cho địch hại vào trong ao nuôi hoặc tôm thoát ra ngoài. 

Bước 2: Vệ sinh ao nuôi: Ao nuôi phải được sên vét lớp bùn đáy để loại bỏ hết chất hữu cơ lắng tụ ở đáy, mầm bệnh và khí độc. Ao cần đươc phơi đáy trước mỗi vụ nuôi nhằm diệt mầm bệnh và địch hại, đồng thời công việc này giúp khoáng hóa các chất hữu cơ còn lại ở đáy và giải phóng các khí độc như H2S, NH3... trong đất đáy ao. Bón vôi để diệt tạp và nâng cao pH, ổn định kiềm trong ao.

Bước 3: Xử lý nước: Tận dụng trời mưa để rửa mặn và trữ nước hoặc chọn nước tốt để lấy nước vào ao (đảm bảo độ mặn từ < 10 ‰) ở mức 30 – 40 cm và giữ 1 - 2 ngày để tảo phát triển, trước khi tăng mức nước lên từ từ cho đến khi đạt yêu cầu. Nước lấy vào ao phải qua hệ thống lưới lọc ở cống. Diệt cá tạp trước khi thả giống, dùng Saponine với liều lượng 10kg/1.000 m3. Khi độ mặn < 10‰, kiềm đạt 100 – 120 mgCaCO3/l, pH 7,5 – 8 tiến hành chọn giống.

Bước 4:  Chọn giống và thả giống: Tôm giống được ương nuôi với 2 giai đoạn:
Giai đoạn I: TCX giống PL12, có kích cỡ 80.000 con/kg, được thả nuôi trong giai. Mật độ thả ương 800-1.000 con/m2. Tôm được ương trong giai lưới với diện tích giai từ 10 -20 m2.
Thức ăn cho TCX giống trong giai đoạn này là thức ăn chuyên dùng trong nuôi TCX  với 40-42% đạm (thức ăn cho Sú-Thẻ, vì thức ăn TCX không có số 00-02). Thức ăn ban đầu có kích cỡ 0.4 – 0.8 mm và tăng dần. Thức ăn được hòa vào nước và tạt đều vào ao ương. Tôm được cho ăn 3 lần/ngày vào lúc sáng sớm, chiều và tối.

Lượng cho ăn: Ngày đầu tiên cho ăn với lượng 150 - 200 g/100.000 PL. Sau đó, mỗi ngày tăng thêm khoảng 10% (10 ngày đầu), 7% (cho 10 ngày tiếp theo), 5% (cho 10 ngày tiếp theo). Khi cho tôm ăn nên rải đều khắp xung quanh ao.

Quản lý môi trường: Đo các yêu tố chính pH, Nhiệt độ, kiềm, độ mặn, NH3 …(5-10 ngày/lần và khi có thay đổi thời tiết). Nhằm có các biện pháp kỹ thuật tác động kịp thời điều chỉnh các yếu tố môi trường về ngưỡng hợp lý, tránh sự biến động lớn và đột ngột của các yếu tố môi trường có thể gây sốc cho tôm. Theo dõi thường xuyên sức khỏe tôm nuôi.

Sau thời gian ương 30 ngày, tôm đạt kích cỡ 0.2-0.3 g/con thì được bung ra ao, bắt đầu nuôi tôm giai đoạn II.

Giai đoạn II: Nuôi tôm giống (kích cỡ 0.2-0.3 g/con) lên thương phẩm (kích cỡ TB: 50g/con). 

Bước 5: Chăm sóc quản lý ao nuôi
Cho ăn: Từ giai đoạn II, sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 30% và cho ăn theo định mức dựa trên khối lượng cơ thể tôm, liều lượng cho ăn 3 - 5% trọng lượng thân/ngày, 2 lần/ngày. Có thể kết hợp sử dụng thức ăn tươi tại địa phương (bắp, cá tạp, ốc bươu vàng,…). Thức ăn được rải điều xung quanh ao.

Quản lý môi trường: Đo các yêu tố chính pH, độ mặn, kiềm, NH3 …(5-10 ngày/lần và khi có thay đổi thời tiết). Áp dụng các biện pháp kỹ thuật kịp thời nhằm điều chỉnh các yếu tố môi trường về ngưỡng hợp lý, tránh sự biến động lớn và đột ngột có thể gây sốc cho tôm. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra sức khỏe tôm nuôi.

Bước 6. Thu hoạch: Tiến hành thu hoạch một lần, sau 6 – 6,5 tháng nuôi tôm đạt kích cở < 20 con/kg.

*Quy trình nuôi tôm càng xanh toàn đực bán thâm canh trong ruộng lúa (Mô hình 2)

Bước 1. Chọn và xây dựng khu ương và ruộng nuôi
- Khu ương giống: Khu ương có hình chữ nhật hoặc vuông, diện tích 1.000 - 4.000 m2 (chiếm 5-10% diện tích ruộng nuôi); độ sâu từ 1,2 - 1,4 m. Bờ phải chắc chắn, không rò rỉ, không có hang hốc làm nơi trú ẩn cho các loại địch hại. Mặt bờ rộng ít nhất là 2 m để tiện việc đi lại chăm sóc tôm. Đối với lưới phải rào chắc chắn phần đáy lưới, lưới phải cao hơn mặt nước từ 30-40 cm. Ao có cống cấp thoát, miệng cống 0,3 - 0,4 m và có lưới ngăn không cho địch hại vào trong ao nuôi hoặc tôm thoát ra ngoài. 

- Ruộng nuôi: Ruộng nuôi có diện tích từ 1-4 ha/hộ, có canh tác lúa, mương bảo phải đảm bảo chiều rộng từ 4-6 m, độ sâu mương từ 1.2 -1.4 m, độ sâu trảng từ 0.6 m trở lên, bờ bao chắc chắn không rò rỉ mọi chiều rộng từ 3-4 m. 

Bước 2: Vệ sinh khu ương và ruộng nuôi: Ao nuôi phải được sên vét lớp bùn đáy để loại bỏ hết chất hữu cơ lắng tụ ở đáy, mầm bệnh và khí độc. Ao cần đươc phơi đáy trước mỗi vụ nuôi nhằm diệt mầm bệnh và địch hại, đồng thời công việc này giúp khoáng hóa các chất hữu cơ còn lại ở đáy và giải phóng các khí độc như H2S, NH3... trong đất đáy ao. Bón vôi để diệt tạp và nâng cao pH, ổn định kiềm trong ao.

Bước 3: Xử lý nước: Tận dụng trời mưa để rửa mặn và trữ nước hoặc chọn nước tốt để lấy nước vào ao (đảm bảo độ mặn từ < 10 ‰) ở mức 30 – 40 cm và giữ 1 - 2 ngày để tảo phát triển, trước khi tăng mức nước lên từ từ cho đến khi đạt yêu cầu. Nước lấy vào ao phải qua hệ thống lưới lọc ở cống. Diệt cá tạp trước khi thả giống, dùng Saponine với liều lượng 10kg/1.000 m3. Khi độ mặn < 10‰, kiềm đạt 100 – 120 mgCaCO3/l, pH 7,5 – 8 tiến hành chọn giống.

Bước 4:  Chọn giống và thả giống: Tôm giống được ương nuôi với 2 giai đoạn:
Giai đoạn I: TCX giống PL12, có kích cỡ 80.000 con/kg, được thả nuôi trong ao/lưới ương. Mật độ thả ương 40-120 con/m2, có cung cấp oxy.
Thức ăn cho TCX giống trong giai đoạn này là thức ăn chuyên dùng trong nuôi TCX  với 40-42% đạm. (thức ăn cho Sú-Thẻ, vì thức ăn TCX không có số 00-02). Thức ăn ban đầu có kích cỡ 0.4 – 0.8 mm và tăng dần. Thức ăn được hòa vào nước và tạt đều vào ao ương. Tôm được cho ăn 3 lần/ngày vào lúc sáng sớm, chiều và tối.

Lượng cho ăn: Ngày đầu tiên cho ăn với lượng 150 - 200 g/100.000 PL. Sau đó, mỗi ngày tăng thêm khoảng 10% (10 ngày đầu), 7% (cho 10 ngày tiếp theo), 5% (cho 10 ngày tiếp theo), 3% (cho 30 ngày tiếp theo). Khi cho tôm ăn nên rải đều khắp xung quanh ao/lưới ương.

Quản lý môi trường: Đo các yêu tố chính pH, Nhiệt độ, kiềm, độ mặn, NH3 (5-10 ngày/lần và khi thời tiết thay đổi). Nhằm có các biện pháp kỹ thuật tác động kịp thời điều chỉnh các yếu tố môi trường về ngưỡng hợp lý, tránh sự biến động lớn và đột ngột của các yếu tố môi trường có thể gây sốc cho tôm. Theo dõi thường xuyên sức khỏe tôm nuôi.

Sau thời gian ương 60 ngày, tôm đạt kích cỡ 2-3 g/con thì được thu thả ra ruộng, kết hợp với bẻ càng, bắt đầu nuôi tôm giai đoạn II.

Giai đoạn II: 
Nuôi tôm giống (kích cỡ 2-3 g/con) lên thương phẩm (kích cỡ trung bình 65g/con). 

Bước 5: Chăm sóc quản lý ruộng nuôi
Cho ăn: Từ giai đoạn II, sử dụng thức ăn công nghiệp (CN) dạng viên có hàm lượng đạm 30% và cho ăn theo định mức (50%) dựa trên khối lượng cơ thể tôm. Có thể kết hợp sử dụng thức ăn tươi tại địa phương (bắp, cá tạp, ốc bươu vàng,…). Cho ăn 1 lần/ngày vào lúc chiều mát có thể xen kẻ 1 cử thức ăn CN với 1 cử thức ăn tươi. Thức ăn được rải điều quanh mương hoặc từng cụm.

Quản lý môi trường: Đo các yêu tố chính pH, kiềm, độ mặn, NH3 …(5-10 ngày/lần và khi thời tiết thay đổi). Áp dụng các biện pháp kỹ thuật kịp thời điều chỉnh các yếu tố môi trường về ngưỡng hợp lý, tránh sự biến động lớn và đột ngột có thể gây sốc cho tôm. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra sức khẻo tôm nuôi.

Bước 6. Thu hoạch: Tiến hành thu hoạch một lần, sau 6 – 6,5 tháng nuôi tôm đạt kích cở < 20 con/kg.

Thông số kỹ thuật chủ yếu

Kỹ thuật thi công: Nuôi tôm càng xanh toàn đực bán thâm canh trong ao và nuôi tôm càng xanh toàn đực bán thâm canh trong ruộng lúa là hướng đi mới cho vùng bên trong cống ngăn mặn. Có chi phí đầu tư thấp, quy trình nuôi tôm càng xanh dễ áp dụng, thu hoạch có kích thước đồng đều, chất lượng thịt ngon và cho hiệu quả kinh tế cao. Việc nuôi tôm càng xanh toàn đực nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi giúp nông dân có thể chuyển đổi từ tôm sú, tôm thẻ sang nuôi tôm càng xanh toàn đực để giảm rủi ro do dịch bệnh và bảo vệ môi trường; nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần tạo sinh kế bền vững ở một số vùng khó khăn và vùng tôm – lúa.

Ưu điểm nổi bật

Quy trình nuôi tôm càng xanh toàn đực bán thâm canh trong ao và nuôi tôm càng xanh toàn đực bán thâm canh trong ruộng lúa sẽ mang lại hiệu quả về kinh tế như tăng năng suất, tăng hiệu quả sản xuất cho ngành nuôi tôm càng xanh. Giống tôm càng xanh toàn đực lớn nhanh và ít hao hụt làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, hóa chất, kháng sinh trong quá trình nuôi, giảm ô nhiễm môi trường và góp phần giải quyết thêm công ăn việc làm và ổn định thu nhập cho người dân, đặc biệt khi mở rộng.

Ngoài ra, còn xây dựng được mô hình nuôi thương phẩm bán thâm canh, làm tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân và tăng sản phẩm hàng hóa góp phần phát triển ngành nuôi trồng thủy sản trong tỉnh

Đánh giá mức độ phát triển công nghệ (TRL)
Mức độ sẵn sàng công nghệ TRL
Chọn Cấp độ Mô tả
☐ TRL 1 Nghiên cứu cơ bản và các nguyên tắc cơ bản của công nghệ được quan sát.
☐ TRL 2 Khái niệm công nghệ và/hoặc ứng dụng được hình thành.
☐ TRL 3 Thử nghiệm khái niệm và đánh giá phân tích ban đầu.
☐ TRL 4 Công nghệ được chứng minh trong phòng thí nghiệm.
☐ TRL 5 Công nghệ được chứng minh trong môi trường mô phỏng.
☐ TRL 6 Công nghệ được chứng minh trong môi trường thực tế.
☐ TRL 7 Nguyên mẫu hệ thống được trình diễn trong môi trường hoạt động.
☐ TRL 8 Hệ thống hoàn chỉnh và được thử nghiệm.
☑ TRL 9 Ứng dụng thực tế – thị trường.
Khả năng ứng dụng & Hiệu quả kinh tế
Lĩnh vực ứng dụng
☑ Thuỷ sản
Đối tượng khách hàng mục tiêu

Tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.

Hiệu quả kinh tế – xã hội

- Thời gian hoàn vốn dự kiến: 12 - 24 tháng
- Khả năng giảm chi phí vận hành/nguyên liệu: Nuôi tôm càng xanh toàn đực được sản xuất hoàn toàn từ nguồn tôm cái giả có tốc độ sinh trưởng nhanh, kích thước lớn, thời gian nuôi ngắn, giảm chi phí nhân công, thức ăn, thuốc hóa chất, giảm ô nhiễm môi trường, tăng sản lượng, tăng giá bán dẫn đến tăng lợi nhuận cho người nuôi. 
+ Nuôi tôm càng xanh đã và đang là đối tượng nuôi nước ngọt truyền thống và rất quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long. Hiệu quả kinh tế cao đã được chứng minh khi nuôi bán thâm canh, xen canh tôm càng xanh với tôm sú, tôm thẻ chân trắng và trong mô hình tôm lúa. Nuôi tôm càng xanh còn góp phần hạn chế dịch bệnh, làm đa dạng nghề nuôi, cải thiện môi trường nuôi ở các khu vực nuôi tôm sú và tôm thẻ.
+ Việc nuôi tôm càng xanh toàn đực mang lại hiệu quả kinh tế và lợi ích trên nhiều khía cạnh, cụ thể như: Đa dạng hóa đối tượng nuôi giúp nông dân có thể chuyển đổi từ tôm sú, tôm thẻ sang nuôi tôm càng xanh toàn đực để giảm rủi ro do dịch bệnh và bảo vệ môi trường; Nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần tạo sinh kế bền vững ở một số vùng khó khăn và vùng tôm – lúa. Ngoài ra, việc nuôi tôm càng xanh còn tăng giá trị thương phẩm tôm nuôi, sản phẩm tôm càng xanh toàn đực còn cải thiện dinh dưỡng cho cộng đồng và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái của địa phương.

Phương thức chuyển giao & Dịch vụ hỗ trợ
Hình thức chuyển giao
☐ Chuyển nhượng quyền sở hữu
☑ Chuyển giao quyền sử dụng (Li-xăng)
☐ Góp vốn bằng công nghệ
☑ Chìa khóa trao tay
☐ Hợp tác sản xuất & đại lý phân phối
☐ Khác
Chứng nhận & Tài liệu số
Chứng nhận chất lượng
☐ ISO / CE / HACCP
☐ Phiếu kiểm nghiệm Quatest
☐ Khác:
Chưa có thông tin chứng nhận.
Dữ liệu đa phương tiện
—
Facebook Zalo LinkedIn X
—
0 đánh giá