Quy trình nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực hai giai đoạn bán thâm canh
Tôm càng xanh là một trong những đối tượng nuôi có hiệu quả cao khi được nuôi xen canh với cây lúa, đặc biệt là vùng ruộng lúa nhiễm mặn vào mùa khô. Thực tế cho thấy mô hình lúa - tôm là không dùng thuốc thú y thủy sản trị bệnh cho tôm, mà sử dụng biện pháp sinh học; sản xuất lúa cũng không sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật (để bảo vệ tôm càng xanh). Do vậy, mô hình cho sản phẩm tôm sạch, lúa sạch. Việc trồng lúa trên đất nuôi tôm không xảy ra “xung đột” trong quá trình sản xuất. Đây là mô hình “thông minh”, cân bằng sinh thái đồng ruộng. Sản xuất lúa - tôm được đánh giá là mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững, ít rủi ro so với các mô hình nuôi trồng thủy sản khác và được xem như mô hình thích ứng biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích.
Tỉnh Cà Mau có tiềm năng rất lớn cho nuôi tôm càng xanh, diện tích nuôi hiện nay khoảng 18.000 ha, ước tính đến năm 2025 là 20.000 ha, tập trung ở các huyện Thới Bình, U Minh và Trần Văn Thời. Đối với mô hình nuôi tôm càng xanh bán thâm canh trong ao cho năng suất từ 1-2 tấn/ha/vụ/năm trong vùng ĐBSCL, nhưng tại tỉnh Cà Mau chưa có mô hình thử nghiệm nuôi bán thâm canh trong ao. Xuất phát từ tiềm năng lợi thế của tỉnh Cà Mau; nhu cầu nuôi tôm càng về kích cỡ lớn 15-20 con/kg; yêu cầu thực tiễn nâng cao năng suất so với tiềm năng hiện có, mục tiêu sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, Dự án SXTN “Thử nghiệm mô hình nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) toàn đực bán thâm canh tại Cà Mau” được thực hiện là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nuôi tôm càng xanh tại tỉnh Cà Mau.
Mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực bán thâm canh: Ứng dụng công nghệ sinh học trong mô hình nuôi và kỹ thuật nuôi tôm 02 giai đoạn; tôm càng xanh giống PL12 được thả nuôi.
- Mô hình 1: giai đoạn 1 ương trong giai lưới với mật độ 1.000 con/m2, thời gian ương 30 ngày, trọng lượng trung bình đạt từ 0,2-0,3 g/con; Giai đoạn 2 nuôi tôm có trọng lượng trung bình từ 0,2-0,3 g/con lên đạt kích cỡ thương phẩm (trọng lượng trung bình ≥ 50 g/con).
- Mô hình 2: Giai đoạn 1 ương trong ao với mật độ từ 60 con/m2, thời gian ương 60 ngày, trọng lượng trung bình từ 2-3 g/con; Giai đoạn 2 nuôi tôm có trọng lượng trung bình từ 2-3 g/con đến đạt kích cỡ thương phẩm (trọng lượng trung bình đạt ≥ 50g/con)
Cho ăn: Giai đoạn 1 sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 42%; Giai đoạn 2 sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 30% và cho ăn theo định mức dựa trên khối lượng cơ thể tôm, có thể kết hợp sử dụng thức ăn tươi tại địa phương (cá phi, cá tạp,…); Mùa vụ thả: Từ tháng 7/2022 đến tháng 3/2023 (mô hình 1) và từ tháng 6- 2022 đến tháng 1-2023 (mô hình 2).
Kết quả đạt được: (1) MÔ HÌNH 01: Năng suất tôm nuôi đạt TB 1.773 kg/ha, tỷ lệ hộ đạt > 1.500 kg/ha chiếm 100%, đạt kích cỡ từ 10-15 con/kg giá bán cao, lợi nhuận tăng. (2) MÔ HÌNH 02: Năng suất tôm nuôi đạt TB 516,4 kg/ha, tỷ lệ hộ đạt > 500kg/ha chiếm 63,6% (HTX Trí Lực chiếm 57,1% và HTX Đoàn Phát chiếm 70%); Thời gian nuôi trong ruộng về kích cỡ < 20 con/kg ngắn hơn so với nuôi thả từ PL12; Năng suất lúa ST 25 đạt 4.047,5 kg/ha, tỷ lệ hộ đạt > 4.000 kg/ha chiếm 71,4 % HTX Trí Lực và 40% HTX Đoàn Phát.