Techmart Y tế & chăm sóc sức khỏe cộng đồng: Phát hiện đột biến kháng kháng sinh của vi khuẩn Helico-bacter pylori nhờ công nghệ giải trình tự gen

Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) ở người Việt Nam rất cao so với thế giới, từ 70 - 90% dân số. Việt Nam cũng là nước có tỷ lệ ung thư dạ dày cao nhất trong số các nước Đông Nam Á. Công nghệ giải trình tự gen có các giá trị chẩn đoán tốt, tương hợp với kết quả nuôi cấy - kháng sinh đồ tương ứng, giúp bác sĩ lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp cho người bệnh.
Ngày 27/10/2022, trong khuôn khổ chuỗi sự kiện Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) chuyên ngành Y tế & Chăm sóc sức khỏe cộng đồng năm 2022, TS. Nguyễn Tuấn Anh - Phụ trách chuyên môn - Trung tâm Đào tạo và Chẩn đoán Y sinh học Phân tử - Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM đã báo cáo chủ đề “Ứng dụng giải trình tự gen để phát hiện các đột biến kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn Helico-bacter pylori”. (Xem video hội thảo tại đây)
 
Năm 1994, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp vi khuẩn Helico-bacter pylori (H. pylori) là tác nhân số 1 gây ung thư dạ dày. Hiện nay, 4 phương pháp thường được sử dụng để chẩn đoán và phát hiện H. pylori gồm: Sử dụng huyết thanh CIM (Current Infection Marker); Nội soi dạ dày và Rapid Urease Test (RUT); Sinh học phân tử (phương pháp multiplex PCR); Thử nghiệm hơi thở (Urease breath test, UBT).
 
“Một nghiên cứu của nhóm được thực hiện ở Bệnh viện Thống Nhất (Đồng Nai) với cùng 4 phương pháp xét nghiệm (nêu trên) cho khoảng 250 bệnh nhân tham gia khảo sát. Kết quả cho thấy, các phương pháp khác nhau sẽ cho tỷ lệ phát hiện vi khuẩn H. pylori khác nhau, cụ thể: ở phương pháp nội soi dạ dày và Rapid Urease Test (RUT) có tỷ lệ dương tính 46,7%, sử dụng huyết thanh CIM là 68%, sinh học phân tử (phương pháp multiplex PCR) là 78,7% và thử nghiệm hơi thở (Urease breath test, UBT) là 54,3%. Dựa trên kết quả này cũng như thông qua phân tích mối tương quan giữa các phương pháp, nhóm nghiên cứu cho rằng, phương pháp xét nghiệm bằng hơi thở có giá trị phát hiện vi khuẩn H. pylori tối ưu nhất, lần lượt tiếp theo là các phương pháp sử dụng huyết thanh; nội soi dạ dày và Rapid Urease Test; sinh học phân tử. Điều này sẽ giúp quá trình lựa chọn phương pháp xét nghiệm trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn, từ đó bác sĩ có thể lựa chọn pháp đồ điều trị phù hợp cho bệnh nhân một cách hiệu quả”. TS. Anh phân tích.
 
 
TS. Nguyễn Tuấn Anh báo cáo nghiên cứu ứng dụng giải trình tự gen để phát hiện các đột biến kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn Helico-bacter pylori.
 
TS. Nguyễn Tuấn Anh chia sẻ thêm, việc chọn lựa phác đồ điều trị phù hợp để tiệt trừ H. pylori là rất quan trọng, đặc biệt trong tình hình kháng các kháng sinh (như clarithromycin, metronidazole và quinolone…) của vi khuẩn này đặc trưng cho từng khu vực địa lý vùng miền khác nhau. Vì vậy, hiểu biết về dịch tễ học của vi khuẩn H. pylori cũng như các yếu tố kháng kháng sinh của chúng là rất quan trọng để có một phác đồ điều trị tiệt trừ H. pylori hiệu quả. Chính việc kháng các loại kháng sinh là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thất bại trong điều trị tiệt trừ H. pylori; các nguyên nhân khác bao gồm phác đồ điều trị không phù hợp hoặc không tuân thủ đúng phác đồ điều trị.
 
Nhóm nghiên cứu đã được Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM hỗ trợ trong triển khai đề tài ứng dụng giải trình tự gen để phát hiện các đột biến kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn Helico-bacter pylori. Trong đề tài này, nhóm đã nghiên cứu trên 5 loại thuốc khác nhau gồm: Amoxicillin, Clarithromycin, Metronidazole, Tetracycline và Levofloxacin. Cụ thể, Clarithromycin có cơ chế hoạt động là ngăn cản quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn, vì thế mà vi khuẩn không có quá trình tổng hợp protein bình thường nên bị tiêu diệt. Còn Levofloxacin có cơ chế ức chế Enzyme Topoisomerase II và Topoisomerase IV vì thế vi khuẩn không tổng hợp được các AND mạch mới nên cũng sẽ bị tiêu diệt.
 
Quy trình thực hiện giải trình tự gen 23S rRNA kháng Clarithromycin và gyrA kháng Levofloxacin ở H. pylori gồm các bước: Xử lý mẫu và tách chiết DNA từ mẫu sinh thiết của bệnh nhân; Phát hiện H. pylori bằng real-time PCR; Nhân bản vùng gene kháng bằng PCR; Gửi sản phẩm PCR để giải trình tự gene; Phân tích kết quả giải trình tự gene.
 
Nhóm nghiên cứu cũng đã tiến hành phân tích thêm về ý nghĩa thực tiễn của 2 phương pháp giải trình tự gen 23S RNA và gyrA với nuôi cấy kháng sinh đồ, cho kết quả như sau; Ở phương pháp nuôi cấy kháng sinh đồ, quá trình xét nghiệm sẽ giúp xác định tính kháng của H. pylori với 5 loại kháng sinh chủ đạo. Tuy nhiên, khuyết điểm của nó là rất chậm, kém nhạy, phải qua nuôi cấy trước, điều kiện đặc biệt khi vận chuyển mẫu cũng như môi trường nuôi cấy phức tạp, điều kiện bảo quản rất đặc biệt. Nhưng ở phương pháp giải trình tự gen 23S RNA và gyrA nó chỉ xác định tính kháng với hai nhóm kháng sinh là macrolide và fluoroquinolone. Tuy nhiên, quá trình xét nghiệm sẽ cho kết quả nhanh hơn, nhạy hơn, trực tiếp từ mẫu nội soi, không cần qua tăng sinh (mẫu đã làm CLO test cũng được sử dụng) và điểm quan trọng là các chỉ số đều tối ưu hơn các phương pháp xét nghiệm thông thường.
 
“Quy trình phát hiện đột biến gen 23S rRNA kháng Clarithromycin và gyrA kháng Levofloxacin ở H. pylori có các giá trị chẩn đoán tốt, tương hợp với kết quả nuôi cấy - kháng sinh đồ tương ứng, có thể giúp bác sĩ lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp cho người bệnh.”. TS. Anh nhận định.
Nhật Linh (CESTI)

Tin sự kiện