Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, đề xuất giải pháp quản lý nguồn lợi thuỷ sản và xây dựng mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ huyện Cần Giờ - TP. Hồ Chí Minh

Đây là nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Thành phố do Viện Sinh học nhiệt đới chủ trì thực hiện, TS. Thái Ngọc Trí làm chủ nhiệm, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM nghiệm thu năm 2023.
Trên thế giới, quản lý và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản nói chung và ở vùng bờ ven biển nói riêng đã có từ thế kỷ thứ 19. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới (Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Anh, Đan Mạch, Na Uy, Úc, Mỹ, các nước châu Phi…) đã và đang áp dụng phương thức quản lý và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trong hoạt động nghề cá ở tại quốc gia của họ thông qua đồng quản lý.

Việt Nam có đặc trưng bờ biển trải dài 3.260 km và hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Vì vậy, hoạt động khai thác, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản diễn ra khá sôi động. Tài nguyên đa dạng sinh học và hệ sinh thái vùng cửa sông ven biển nói chung và nguồn lợi thuỷ sản nói riêng, có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học. Nguồn lợi thuỷ sản ở vùng cửa sông ven biển không chỉ cung cấp thực phẩm cho đời sống hàng ngày của con người, giá trị về dược liệu, đóng góp kim ngạch trong xuất khẩu, mà còn là mắt xích quan trọng của các hệ sinh thái vùng bờ, có vai trò quan trọng trong sinh kế cộng đồng ven biển.

Nguồn lợi thuỷ sản thuỷ sinh vật (ngoài cá) ở vùng biển ven bờ có liên quan mật thiết với các yếu tố môi trường hoá lý, sinh học và quần xã thực vật, thảm thực vật ven bờ và các hệ sinh thái ở đây (hệ sinh thái thuỷ vực, hệ sinh thái rừng ngập mặn,…). Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, nguồn lợi thuỷ sản ven bờ nói riêng và tài nguyên đa dạng sinh học, hệ sinh thái vùng bờ nói chung chịu áp lực lớn bởi các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội (phát triển đô thị, thuỷ điện ở thượng nguồn, hệ thống công trình thuỷ lợi, khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường,…), cũng như tác động không nhỏ từ các yếu tố cực đoan của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (NBD).

Hiện nay, các mô hình quản lý, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (NLTS) vùng biển ven bờ (khu vực Đồng bằng sông Cửu Long) chỉ mới được triển khai ở một số tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, đề xuất giải pháp quản lý nguồn lợi thuỷ sản và xây dựng mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ huyện Cần Giờ - TP. Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm quản lý, sử dụng và phát triển bền vững NLTS, thuỷ sinh vật gắn với bảo tồn nguồn gen, hướng đến quản lý thích ứng với BĐKH, NBD, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội; ổn định và phát triển sinh kế của người dân ven biển, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng ở huyện Cần Giờ.

01KQNCLVquanlythuysanvanghecah1.jpg
Đề tài đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá hiện trạng nguồn lợi và sự đa dạng của thực vật nổi (TVN – Phytoplankton), động vật nổi (ĐVN – Zooplankton), động vật đáy không xương sống cỡ lớn (ĐVĐKXSCL – Macrozoobenthos), thảm thực vật, cá ở vùng cửa sông ven biển Cần Giờ; nghiên cứu, đánh giá hiện trạng nghề khai thác (kinh tế - xã hội nghề cá) ở vùng cửa sông ven biển Cần Giờ; nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn một số loài đại diện có giá trị kinh tế, ý nghĩa khoa học hoặc đặc trưng ở vùng Cần Giờ; nghiên cứu, phân tích, đánh giá các yếu tổ ảnh hưởng đến nguồn lợi cá ở Cần Giờ; xây dựng mô hình đồng quản lý nghề cá ở Cần Giờ và bộ tiêu chí đánh giá, đề xuất giải pháp, lộ trình kế hoạch thực hiện.

Kết luận cho thấy, khu hệ thực vật phù du (TVPD) và tảo bám ở các khu vực nghiên cứu phong phú và đa dạng. Trong đó, nhóm tảo silic chiếm ưu thế về thành phần loài, mật độ cũng như sinh khối. Khu hệ TVPD ở khu vực cửa sông và rừng ngập mặn có tính đa dạng hơn ở vùng biển ven bờ, ngược lại mật độ và sinh khối ở khu vực cửa sông và rừng ngập mặn thường thấp hơn ở vùng ven bờ. Ở tất cả các khu vực nghiên cứu, các loài tảo silic chiếm ưu thế bao gồm các loài Skeletonema, Thalassionema, Coscinodiscus, Thalassiosira, Cyclotella, trong đó sự hiện diện của một số loài như Skeletonema, Cyclotella, Thalassiosira với mật độ và sinh khối cao, là nguồn thức ăn dồi dào cho nuôi trồng thủy hải sản và nghề cá. Đặc biệt, với sự hiện diện và chiếm ưu thế của hai nhóm tảo silic Thalassiosira và Skeletonema, đây chính là nguồn thức ăn tự nhiên có giá trị cho các loài thủy hải sản phân bố và phát triển.

Kết quả khảo sát phiêu sinh động vật (PSĐV) tại các điểm thu mẫu ghi nhận được 52 loài thuộc 29 giống, 21 họ, 6 lớp, 4 ngành và 7 loại ấu trùng. Số loài thuộc nhóm giáp xác chân chèo Copepoda là cao nhất, chiếm 49.15% tổng số loài PSĐV trong các mẫu thu được. Tiếp theo là các loài thuộc nhóm động vật nguyên sinh Protozoa (chiếm 35.59%), nhóm khác bao gồm ấu trùng các loại và loài thuộc ngành khác chiếm 11.86%, nhóm giáp xác có vỏ Ostracoda chiếm tỷ lệ thấp nhất với 3.39%.

Quần xã ĐVĐKXSCL ở vùng cửa sông ven biển và rừng ngập mặn Cần Giờ ghi nhận 161 loài, 99 giống thuộc 76 họ, 34 bộ, 8 lớp, 5 ngành (Annelida, Arthropoda, Cnidaria, Echinodermata, Mollusca). Ở mô hình Long Hòa, các loài Amphioplus depressus, Terebellides stroemii, Nucula sp1, Tanais sp1 chiếm ưu thế. Các loài như Nucula nucleus, Tanais sp3, Nucula sp1, Heteromastus sp1, Caryocorbula chittyana, Tanais sp1, Scolelepis bonnieri, Terebellides stroemii chiếm ưu thế ở mô hình Thạnh An. Ở mô hình Cần Thạnh, các loài Scolelepis bonnieri, Sternaspis sp2, Tellimya ferruginosa, Nereimyra punctata chiếm ưu thế.

Tính đa dạng của quần xã ĐVĐKXSCL ở vùng cửa sông ven biển và rừng ngập mặn Cần Giờ khá cao. Các giá trị về số loài, chỉ số đa dạng Margalef, Shannon và chỉ số Hill đều khá cao ở hầu hết các địa điểm nhưng không có sự khác biệt ý nghĩa giữa các mô hình. Trong số các loài ĐVĐKXSCL có rất nhiều loài có giá trị kinh tế cao, ví dụ như tôm tít, hàu và nghêu phục vụ phát triển sinh kế cộng đồng trong quản lý nghề cá, phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản vùng biển ven bờ huyện Cần Giờ, TP.HCM.

Kết quả nghiên cứu đã thu thập và xác định được 147 loài cá thuộc 44 họ, 13 bộ. Trong 13 bộ cá đã được xác định, bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế với số lượng loài nhiều nhất (83 loài chiếm tỷ lệ 57%). Đứng thứ hai là bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) với 15 loài chiếm tỷ lệ 10%; kế đến là bộ cá Trích (Clupeiformes) với 12 loài chiếm tỷ lệ 8%; đứng thứ tư là bộ cá Nheo (Siluriformes) với 9 loài chiếm tỷ lệ 6%. Bộ cá Chình (Anguilliformes) có 7 loài, chiếm tỷ lệ 5%. Bộ cá Đối (Mugiliformes) có 6 loài chiếm tỷ lệ 4%. Các bộ còn lại có số lượng loài ít, chiếm tỷ lệ về thành phần loài dao động từ 1% - 3% trong cấu trúc của thành phần loài. Kết quả nghiên cứu cũng xác định 13 loài thuộc 10 họ, 5 bộ có mặt trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và trong Danh lục Đỏ thế giới - IUCN (2021), với các mức độ đe doạ khác nhau. Ngoài ra, có 3 loài nằm trong Danh mục loài thủy sản nguy cấp, quý hiếm (Nghị định 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 của Chính phủ). Có 2 loài là loài đặc trưng cho địa phương, vùng gồm loài cá Chìa vôi (Proteracanthus sarissophorus) và cá Dứa (Pangasius elongatus).

01KQNCLVquanlythuysanvanghecah2.jpg
Ở các vị trí nghiên cứu, nhóm đề tài đã xác định được 15 loài cây ngập mặn (CNM) thực thụ thuộc 8 họ, trong đó họ Đước (Rhizophoraceae) chiếm ưu thế với 5 loài thuộc 3 chi (Rhizophora, Ceriops, Kandelia), họ Ô rô (Acanthceae) có 3 loài thuộc chi Mấm (Avicennia). Rừng ngập mặn khu vực nghiên cứu có mật độ cá thể trung bình dao động từ 1.170 – 2.030 cây/ha, đường kính trung bình cá thể dao động từ 9,3 - 15,5 cm, chiều cao trung bình từ dao động từ 9,4 - 11,5 m, tập trung ở cây có đường kính và chiều cao nhỏ và trung bình.

Chỉ số đa dạng Shannon-Wiener ở các vị trí nghiên cứu dao dộng từ 0,49 đến 0,92, trung bình là 0,66 cho thấy rừng ngập mặn ở các vị trí nghiên cứu thấp. Chỉ số ưu thế Simpson trong nghiên cứu tương đối dao động từ 0,49 đến 0,92, trung bình đạt 0,66, cho thấy các quần xã thực vật trong khu vực nghiên cứu có nhiều loài ưu thế. Có 4 vị trí (CG01, CG07, CG11 và CG15) có chất lượng nước tốt, chỉ số chất lượng nước trong khoảng 80 ≤ CCMR-WQI ≤ 94, nguồn nước được bảo vệ tốt; 10 vị trí còn lại có chất lượng nước khá, chỉ số chất lượng nước trong khoảng 65 ≤ CCMR-WQI ≤ 79, nguồn nước đôi khi bị suy yếu hoặc đe dọa.

Khu hệ thuỷ sinh vật thuỷ sản, thực vật rừng ngập mặn (vùng bờ) phong phú và đa dạng có vai trò và giá trị không chỉ trong tiềm năng phát triển kinh tế thuỷ sản mà còn có vai trò và giá trị về khoa học bảo tồn đa dạng sinh học. Điều kiện môi trường và hệ sinh thái vùng bờ tốt có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái vùng biển ven bờ.

Nhóm nghiên cứu cũng đã xây dựng được mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ ở Cần Giờ (thành lập 3 tổ đồng quản lý nghề cá: Tổ ĐQL nghề cá Long Hoà, Tổ ĐQL nghề cá Cần Thạnh, Tổ ĐQL nghề cá Thạnh An) với sự cam kết của cộng đồng sẽ triển khai ĐQL nghề cá ở vùng biển ven bờ theo đúng quy định của Nhà nước và có các quy ước cộng đồng. Đồng thời xây dựng một kế hoạch tổng thể cho ĐQL nghề cá (có sự tham gia và thống nhất từ cộng đồng nghề cá).

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở khoa học cho việc quản lý, sử dụng nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ (đới bờ) gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái cảnh quan ở vùng biển ven bờ, thích ứng với BĐKH, NBD. Trên cơ sở kết quả thực hiện đề tài, đã giúp địa phương quy hoạch các khu vực khai thác, nuôi trồng và bảo tồn phù hợp với tình hình thực tiễn, đảm bảo ổn định sinh kế cộng đồng và bảo tồn đa dạng sinh học cho vùng bờ ở địa phương, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Đồng thời ứng dụng và nhân rộng kết quả của đề tài cho các vùng biển ven bờ khác ở Việt Nam.

Có thể tìm đọc toàn văn Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài tại Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ (CESTI).
Lam Vân (CESTI)

Tin sự kiện