Mô hình sản xuất giống cá dĩa thương phẩm áp dụng phương pháp sinh học trong kỹ thuật sinh sản không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn giúp người nuôi chủ động được nguồn cá cung cấp cho thị trường.
Ngày 19/8/2022, Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ (CESTI) phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao tổ chức hội thảo giới thiệu “Quy trình sản xuất giống cá dĩa bằng phương pháp sinh học”. (Xem video hội thảo tại đây).
Theo KS. Trương Thị Thúy Hằng (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao), Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế nuôi cá cảnh xuất khẩu. Hiện nay, xuất khẩu cá cảnh chiếm hơn 3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong đó, TP.HCM chiếm đến 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Về tình hình sản xuất cá cảnh, theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP.HCM, từ năm 2010 – 2019, tốc độ tăng trưởng bình quân 15%/năm, sản lượng tăng từ 60 triệu con năm 2010 lên 205 triệu con năm 2019. TP.HCM có tiềm năng phát triển rất lớn trong lĩnh vực cá cảnh, chiếm đến 62% hiện trạng sản xuất so với các tỉnh lân cận như Bình Dương, Tiền Giang, Long An, Đồng Nai, Tây Ninh,... Thành phố có 240 trại sản xuất, ương nuôi cá cảnh với tổng diện tích nuôi khoảng 89 ha, các cơ sở sản xuất tập trung chủ yếu ở huyện Bình Chánh, Củ Chi. Các loài cá cảnh được sản xuất phổ biến là moly, trân châu, hòa lan, hồng kim, bảy màu, neon, ngựa sọc, tứ vân, cánh buồm, cá dĩa, cá xiêm…
Trong đó, cá dĩa được thị trường ưa chuộng, có giá trị cao, chiếm 15% tỷ lệ xuất khẩu trong các loại cá cảnh. Đến nay số lượng cá dĩa ở Việt Nam đã đa dạng về chủng loại với màu sắc hấp dẫn, với đủ loại vân và đốm trên cơ thể. Tuy nhiên, việc sản xuất giống cá dĩa vẫn tồn tại một số khó khăn như chưa chủ động được nguồn thức ăn cho cá, vẫn còn phụ thuộc thức ăn tươi sống tự nhiên; khâu ương nuôi còn phụ thuộc vào tập tính sinh sản tự nhiên của cá (cá dĩa bố mẹ sinh sản ăn trứng, không nuôi con). Ngoài ra, cá dĩa sinh sản tự nhiên nên số lượng con giống nhỏ lẻ, không đồng đều, không đủ cung cấp cho thị trường; thời gian tái thành thục của cá bố mẹ kéo dài, làm cho cá bố mẹ suy giảm sức khỏe, ảnh hưởng đến chất lượng của đàn con tiếp theo.
KS. Trương Thị Thúy Hằng (đại diện nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao) trình bày tại hội thảo
Vì vậy, nhóm nghiên cứu của KS. Hằng đã tìm ra loại thức ăn phù hợp để thay thế nhớt cá dĩa bố mẹ, giúp chủ động trong việc sinh sản nhân tạo để rút ngắn thời gian tái thành thục của cá bố mẹ và cung cấp cá con với số lượng lớn cho thị trường cá cảnh. Cụ thể nhóm tiến hành nuôi sinh khối Artemia làm thức ăn cho cá dĩa từ khâu ương cho đến nuôi vỗ cá dĩa bố mẹ. Đồng thời áp dụng phương pháp ấp trứng nhân tạo – can thiệp sớm cho các cặp cá không nuôi con; sử dụng các mô hình cá giả mô phỏng cá bố mẹ, ương nuôi cá bột lên cá thương phẩm. Qua đó nhóm đưa ra quy trình sản xuất giống cá dĩa bằng phương pháp ấp trứng nhân tạo có thể chuyển giao cho các cơ sở sản xuất giống cá cảnh.
KS. Trương Thị Thúy Hằng cho biết, quy trình đã được áp dụng thành công trong mô hình sản xuất giống cá dĩa đỏ tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp công nghệ cao và tại một trại cá cảnh ở Củ Chi.
Kết quả triển khai mô hình cho thấy, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất giống cá dĩa có thể thay thế phương pháp nuôi truyền thống, cho phép người nuôi can thiệp được vào quá trình sinh sản của cá, từ đó chủ động được nguồn cá cung cấp cho thị trường. Trong quy trình này, cá bố mẹ nuôi trong 5 ngày được tách ra và tiếp tục áp dụng phương pháp nuôi nhân tạo sẽ hạn chế được tỷ lệ phân đàn, đồng thời rút ngắn thời gian tái thành thục cá dĩa bố mẹ. Từ đó có thể cho ra số lượng cá dĩa con nhiều, đáp ứng được yêu cầu của thị trường về số lượng và ổn định về chất lượng với đàn cá có kích cỡ đồng đều.
Áp dụng mô hình này có thể sản xuất giống cá dĩa với tổng sản lượng cho 1 năm khoảng 200.004 con, trong đó, 3.852 con có kích thước 7 – 8cm và 16.152 con kích thước 5 – 6cm. Chất lượng cá dĩa có màu sắc đẹp, đạt yêu cầu của thị trường cá cảnh. Tổng thu của mô hình là 1.431.360 đồng, lợi nhuận kinh tế đạt được 756.910.000 đồng/năm.
Hiện tại, nhóm nghiên cứu sẵn sàng tư vấn, hợp tác chuyển giao quy trình công nghệ đến các đơn vị, cá nhân, doanh nghiệp có nhu cầu. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao cũng hợp tác với Sàn Giao dịch công nghệ Techport.vn (thuộc Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ – Sở KH&CN TP.HCM) để sẵn sàng chuyển giao mô hình áp dụng vào sản xuất.
Lam Vân (CESTI)